NHỮNG CHỈ ĐẠO ĐỘT PHÁ VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Thứ ba – 07/10/2025 20:02

Thay mặt Bộ Chính trị, ngày 22/8/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW)
I. KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH VÀ SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT
1. Về thực trạng tình hình
– Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt, coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, đặc biệt đã được nhấn mạnh tại Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII và Nghị quyết số 29-NQ/TW.
– Về kết quả đạt được: (1) Tiếp cận giáo dục và chất lượng giáo dục phổ thông ngày càng được cải thiện, được xếp vào mức cao trong khu vực và nhóm quốc gia có cùng mức thu nhập, nhất là đạt giải cao.
– Về tồn tại, hạn chế: (1) Đầu tư cho giáo dục đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới và phát triển; mức tăng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo nhiều năm thấp hơn mức tăng trưởng GDP cả nước; (2) Tiếp cận giáo dục còn chênh lệch đáng kể giữa các vùng miền, nhóm đối tượng; (3) Đội ngũ nhà giáo và điều kiện học tập ở nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu; (4) Giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp có khoảng cách lớn so với các nước tiên tiến; trình độ, kỹ năng của lực lượng lao động còn thấp, đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ rất mỏng; (5) Môi trường giáo dục nhà trường chịu tác động từ cơ chế thị trường ở một số phương diện tiêu cực; (6) Gắn kết giữa nhà trường, doanh nghiệp, Nhà nước chưa thực sự chặt chẽ; (7) Tăng trưởng năng suất lao động chưa cao có phần nguyên nhân, trách nhiệm của lĩnh vực giáo dục đào tạo…
– Nguyên nhân tồn tại, hạn chế:
(1) Nhận thức, tư duy về giáo dục và đào tạo chưa đầy đủ, thống nhất. Chủ trương, chính sách về GDĐT khá đầy đủ nhưng triển khai thực hiện chưa thực sự quyết liệt, hiệu quả chưa cao.
(2) Thể chế, chính sách về giáo dục và đào tạo chậm đổi mới, chưa đồng bộ. Chế độ, chính sách đối với nhà giáo chưa thu hút được nhiều người giỏi. Ưu đãi đầu tư cho giáo dục chưa đủ hấp dẫn để thu hút các nguồn lực xã hội. Thiếu các chính sách thúc đẩy hiệu quả việc gắn kết đào tạo với nghiên cứu, nhà trường với doanh nghiệp.
(3) Ngân sách nhà nước chi cho GDĐT chưa đáp ứng yêu cầu, trong khi các nguồn lực xã hội còn hạn chế. Đặc biệt, ngân sách chi cho giáo dục đại học chiếm tỉ trọng thấp nhiều lần so với các nước trong khu vực. Chính sách phân bổ và sử dụng nguồn lực chưa hiệu quả, cơ chế tài chính thiếu bền vững.
(4) Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo chưa thực sự hiệu quả, phù hợp với thực tế, chưa thông suốt. Nhiều cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp còn nhỏ, phân tán, hoạt động kém hiệu quả. Tổ chức Hội đồng trường có một số vai trò lãnh đạo trùng với tổ chức Đảng, gây khó khăn cho hoạt động của cơ sở giáo dục.
(5) Tâm lý trọng danh vị trong xã hội còn nặng nề, chính sách sử dụng cán bộ còn coi trọng bằng cấp hơn thực lực, còn nhiều tiêu cực trong xã hội ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường.
2. Sự cần thiết ban hành Nghị quyết về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo
– Bối cảnh quốc tế đang có những thay đổi sâu sắc, đặt ra những yêu cầu mới, toàn diện và cấp thiết đối với giáo dục và đào tạo:
(i) Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các xu thế chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, sự phát triển đột phá của KHCN, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, đang định hình lại toàn bộ hệ thống GDĐT trên thế giới.
(ii) Giáo dục, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành nhân tố quyết định đối với năng lực cạnh tranh quốc gia.
(iii) Các cường quốc công nghệ đều đã ban hành chiến lược mới về phát triển giáo dục, khoa học, công nghệ và nhân tài.
– Đất nước ta đang đứng trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, thực hiện hai mục tiêu 100 năm, cần phải có thế hệ con người Việt Nam mới,những công dân toàn cầu có đủ bản lĩnh, trí tuệ, sức khỏe để kiến tạo tương lai.
-Trong bối cảnh đó, đột phá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và đội ngũ nhân tài đã trở thành yêu cầu tất yếu, cấp bách.
– Thời gian qua, nhiều Nghị quyết của Đảng được ban hành và triển khai thực hiện;tuy nhiên, có nhiều nội dung triển khai trong thực tế gặp nhiều vướng mắc, cần điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh mới.
→ Từ tình hình trên, Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo tập trung xây dựng và ban hành Nghị quyết số 71, trong đó đề ra những chủ trương, quyết sách mạnh mẽ hơn để khai thông điểm nghẽn, tạo đột phá phát triển, hiện đại hóa, chấn hưng nền giáo dục nước nhà, góp phần thúc đẩy thực hiện các quyết sách mới của Bộ Chính trị về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, xây dựng pháp luật, phát triển kinh tế tư nhân…, hướng tới thực hiện thành công 2 mục tiêu chiến lược 100 năm.
II. NỘI DUNG TRỌNG TÂM CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 71-NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ
1. Về quan điểm chỉ đạo
– Xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc; là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân.
– Phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, xây dựng xã hội học tập, học suốt đời đời vì sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững của đất nước, vì tương lai của dân tộc.
– Lấy người học làm trung tâm, là chủ thể của quá trình giáo dục và đào tạo, nhà trường là nền tảng, nhà giáo làm động lực, bảo đảm giáo dục toàn diện cả tri thức, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ.
– Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo phải bắt đầu từ đổi mới tư duy, nhận thức, thể chế, huy động nguồn lực xã hội; xây dựng nền giáo dục mở, liên thông, bảo đảm cơ hội học tập công bằng, bình đẳng cho mọi người, đáp ứng nhu cầu xã hội, thúc đẩy học tập suốt đời.
2. Mục tiêu:
– Đến 2030: Hoàn thành phổ cập mầm non, trung học cơ sở; ít nhất 80% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia; 20% cơ sở được đầu tư hiện đại tương đương các nước phát triển ở châu Á; phấn đấu ít nhất 8 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á, ít nhất 1 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực.
– Đến 2035: Hoàn thiện phổ cập trung học phổ thông và tương đương; phấn đấu ít nhất 2 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực.
– Đến 2045: Việt Nam có hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng và chất lượng, đứng vào nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới; nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài khoa học, công nghệ trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia; phấn đấu ít nhất 5 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới.
3. Các nhiệm vụ, giải pháp đột phá phát triển giáo dục và đào tạo
Nghị quyết xác định 08 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, bao gồm 05 nhóm chung và 03 nhóm riêng cho các bậc học, cụ thể là:
(1) Nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy và hành động, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ để đột phá phát triển giáo dục đào tạo.
(2)Đổi mới mạnh mẽ thể chế, tạo cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho phát triển giáo dục đào tạo.
(3) Tăng cường giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ, hình thành hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới.
(4) Chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo.
(5) Tập trung xây dựng đội ngũ nhà giáo, cơ sở vật chất trường lớp đạt chuẩn, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông; tăng cường việc dạy và học ngoại ngữ, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
(6) Cải cách, hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp, tạo đột phá phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao.
(7) Hiện đại hóa và nâng tầm giáo dục đại học, tạo đột phá phát triển nhân lực trình độ cao và nhân tài để dẫn dắt nghiên cứu, đổi mới sáng tạo.
(8) Đẩy mạnh hợp tác, hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục đào tạo.
Về những điểm mới, đột phá về nhiệm vụ, giải pháp:
– Một là, đột phá về thể chế, chính sách: Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật về giáo dục và đào tạo để tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt về cơ chế, chính sách, bảo đảm thông suốt trong thực thi.
– Hai là, đột phá về quản lý, quản trị: Chuyển mạnh từ quản lý hànhchính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại. Đặt phát triển giáo dục và đào tạo trong tư duy quản trị quốc gia, quản trị xã hội. Tăng cường vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, không tổ chức Hội đồng trường trong các trường công lập; thực hiện bí thư cấp uỷ kiêm người đứng đầu cơ sở giáo dục để tinh gọn bộ máy các cơ sở giáo dục, khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng.
– Ba là, đột phá về nguồn lực đầu tư: Chi NSNN bảo đảm các điều kiện giáo dục đạt chuẩn, phấn đấu cơ cấu chi đầu tư 5%; chi cho giáo dục đại học 3%. Ưu tiên bố trí đất sạch, miễn, giảm tiền sử dụng đất, thuê đất, mở rộng tín dụng cho cơ sở giáo dục; thúc đẩy hợp tác công tư (như cho thuê, mượn công trình công). Đầu tư kiên cố hóa,hoàn thành mạng lưới trường nội trú, bán trú trước năm 2030.
– Bốn là, đột phá về phát triển đội ngũ nhà giáo, chuyên gia và nhân tài: Có chính sách ưu đãi đặc thù, bố trí đủ ngân sách cho thu hút, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo ở trong nước và nước ngoài. Bố trí đủ biên chế giáo viên theo tiêu chuẩn; nâng phụ cấp ưu đãi nghề đối với nhà giáo; huy động người có tài năng tham gia giảng dạy các môn đặc thù. Xây dựng chương trình thu hút giảng viên xuất sắc từ nước ngoài với các ưu đãi vượt trội; thực hiện cơ chế giảng viên đồng cơ hữu.
– Năm là, đột phá trong chính sách hỗ trợ người học: Xây dựng Quỹ học bổng quốc gia, bố trí NSNN và huy động các nguồn hợp pháp khác để cấp học bổng hỗ trợ, khuyến khích học tập, thu hút tài năng, cử đi học nước ngoài; ưu tiên học bổng từ NSNN cho các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ, nhất là ở trình độ tiến sĩ.
– Sáu là, đột phá về tự chủ và phát huy năng lực sáng tạo của các cơ sở giáo dục, đào tạo: Xây dựng cơ chế tự chủ mạnh mẽ, tạo thuận lợi tối đa cho các cơ sở giáo dục công lập phát huy chủ động và sáng tạo; đảm bảo quyền tự chủ đầy đủ, thống nhất cho các cơ sở giáo dục trong hoạt động chuyên môn, quản trị nội bộ và hợp tác quốc tế, không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính.
– Bảy là, đột phá về năng lực ngoại ngữ, chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục: Chuyển đổi số toàn diện, ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo; phát triển hệ thống thông tin giáo dục và nhân lực quốc gia, kết nối hệ thống thông tin thị trường lao động. Tăng cường việc dạy và học ngoại ngữ, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học./.
Tác giả bài viết: Tài liệu HNTT


